Ung thư nội mạc tử cung – Yếu tố nguy cơ

( 31-05-2016 - 03:20 PM ) - Lượt xem: 422

Ung thư nội mạc tử cung là loại ung thư thường gặp thứ 6 ở phụ nữ trên toàn thế giới, với 320 000 trường hợp được chẩn đoán mới trong năm 2012

Tính trung bình cứ 37 phụ nữ sống trọn cuộc đời thì có một người bị ung thư nội mạc tử cung, khoảng 75% gặp ở độ tuổi trên 55 và hiếm gặp ở độ tuổi dưới 45. Bên cạnh ung thư cổ tử cung, ung thư nội mạc là loại ung thư phụ khoa thường gặp và thường gây nên vấn đề phụ khoa kinh điển “Xuất huyết âm đạo bất thường”.

Tử cung có cấu tạo chính gồm cổ và thân tử cung nối với nhau bởi eo tử cung. Thân tử cung rỗng ở giữa gọi là lòng tử cung, là nơi thai nhi phát triển. Lòng tử cung được lót bởi nội mạc tử cung, cấu trúc này thường xuyên chịu tác động có chu kì của 2 loại hoocmon estrogen và progesterone và bong tróc vào giữa chu kì rụng trứng tạo thành kinh nguyệt. Ung thư nội mạc tử cung hình thành trên lớp nội mạc này khi có sự sinh trưởng, phát triển bất thường và tạo thành tế bào ung thư.

Các triệu chứng thường gặp bao gồm:

– Xuất huyết âm đạo sau mãn kinh

– Xuất huyết âm đạo giữa kì kinh

– Chảy dịch lẫn máu bất thường từ âm đạo

– Đau vùng chậu

– Đau khi giao hợp

Các phương pháp điều trị chủ đạo hiện nay tại Việt Nam bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị, ngoài ra nếu ung thư 

được phát hiện ở giai đoạn rất sớm có thể được xem xét điều trị bảo tồn khả năng sinh sản bằng hoocmon và xem xét

điều trị triệt để sau khi sinh sản. Ung thư nội mạc tử cung nhìn chung có tiên lượng tốt, nhất là khi được phát hiện sớm.

Ở Hoa Kỳ, tỉ lệ còn sống sau 5 năm (5 năm là mốc thường được sử dụng để thống kê về hiệu quả điều trị ung thư, sống

còn 5 năm không có nghĩa là những người này chỉ sống được 5 năm mà đơn giản là người ta chỉ theo dõi trong 5 năm 

và ghi nhận tỉ lệ này) kể từ khi phát hiện và điều trị bệnh là khoảng 69%, nghĩa là trong 100 người được chẩn đoán và 

điều trị, sẽ có 69 người sống sau 5 năm, nếu được phát hiện và điều trị sớm, tỉ lệ này có thể hơn 91%, nghĩa là số

người sống sau 5 năm tăng đến 91 người trong 100 người.

55705-004-63F84BF3

Những yếu tố nguy cơ phổ biến của ung thư nội mạc tử cung là gì?

Tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng. Hầu hết phụ nữ được chẩn đoán sau khi đã mãn kinh, chỉ có 15% được chẩn đoán trước 50 tuổi và chỉ có 5% trước 40 tuổi. Phụ nữ trẻ mắc bệnh thường liên quan tới béo phì và chưa sinh đẻ và thường có tiên lượng tốt hơn phụ nữ lớn tuổi.

Đặc điểm sinh sản cũng liên quan tới việc tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, bao gồm: chưa sinh đẻ, vô sinh, có kinh sớm (trước 2 tuổi) và mãn kinh trễ. Càng nhiều chu kì kinh nguyệt càng tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Điều trị estrogen thay thế ở phụ nữ mãn kinh làm làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung lên gấp 2 – 20 lần, nguy cơ tăng tương ứng với thời gian sử dụng. Dùng đồng thời progestins liên tục hay ngắt quãng (10 đến 15 ngày/tháng) giảm đáng kể nguy cơ ung thư.

Tamoxifen, một thuốc kháng thụ thể estrogen chọn lọc được sử dụng trong điều trị ung thư vú làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung lên 6 – 8 lần khi sử dụng.

Béo phì làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung. Tình trạng này được giải thích bởi việc tăng sản xuất estrogen nội sinh từ quá trình tạo nhân thơm của mô mỡ. Hơn nữa, người phụ nữ béo phì tiền mãn kinh thường trải qua nhiều chu kì kinh không rụng trứng.

Đái tháo đường cũng làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung do thường có béo phì đi kèm, mặc dù cũng có một mối liên quan độc lập giữa đái tháo đường và ung thư nội mạc tử cung. Về mặt dịch tể học,tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, nhưng liệu rằng tăng huyết áp  có phải là nguy cơ độc lập của ung thư nội mạc tử cung hay không thì vẫn còn chưa rõ ràng.

Yếu tố bảo vệ: Sử dụng thuốc ngừa thai đường uống dạng phối hợp, thuốc tiêm tránh thai DMPA, hay dụng cụ tử cung chế tiết progesterone làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.